Người Slav
Người Slav hay Slavơ là những nhóm người nói ngữ tộc Slav. Người Slav phân bố về mặt địa lý trên khắp các vùng phía bắc của lục địa Á-Âu; họ chủ yếu sinh sống ở Trung Âu, Đông Âu, Đông Nam Âu và Bắc Á, mặc dù có một nhóm thiểu số Slav lớn rải rác trên khắp các quốc gia Baltic và Trung Á,[1][2] và một cộng đồng người Slav di cư đáng kể ở châu Mỹ, Tây Âu và Bắc Âu.[3]
| Tổng dân số | |
|---|---|
| xem § Dân số | |
| Khu vực có số dân đáng kể | |
| Ngôn ngữ | |
| Ngữ tộc Slav | |
| Tôn giáo | |
| Cơ Đốc chiếm đa số (Chính thống giáo · Công giáo · Kháng Cách · Spiritual) Thiểu số: Không tôn giáo · Hồi giáo · Do Thái giáo · Chủ nghĩa ngoại giáo Slav (chủ nghĩa tân ngoại giáo) | |
| Sắc tộc có liên quan | |
| Những dân tộc châu Âu khác |
Người Slav Sơ Khai sống trong Giai đoạn Di cư và Sơ kỳ Trung Cổ (khoảng từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 10 sau Công nguyên), và đã kiểm soát phần lớn Trung, Đông và Đông Nam Âu giữa thế kỷ thứ sáu và thế kỷ thứ bảy. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 7, họ dần dần theo Cơ Đốc giáo. Đến thế kỷ 12, họ đã hình thành nên nhóm dân cư cốt lõi của một số quốc gia Cơ Đốc giáo thời trung cổ: người Slav Đông ở Kievan Rus', người Slav Nam ở Đế chế Bulgaria, Công quốc Serbia, Công quốc Croatia và Banate Bosnia, và người Slav Tây ở Công quốc Nitra, Đại Moravia, Công quốc Bohemia, và Vương quốc Ba Lan.
Bắt đầu từ giữa thế kỷ 19, một phong trào toàn Slav đã nhấn mạnh đến di sản chung và sự thống nhất của tất cả các dân tộc Slav. Trọng tâm chính của phong trào này là ở Balkan, trong khi Đế chế Nga lại phản đối phong trào này.
Các ngôn ngữ Slav thuộc nhánh Balt-Slav của ngữ hệ Ấn-Âu. Người Slav ngày nay được phân loại thành ba nhóm:[4][5][6][7][8][9]
- Người Slav Tây (Người Séc, Người Kashub, Người Ba Lan, Người Silesia, Người Slovak và Người Sorb);
- Người Slav Đông (Người Belarus, Người Nga, Người Rusyn và Người Ukraina);
- Người Slav Nam (Người Bosnia, Người Bulgaria, Người Croatia, Người Gorani, Người Macedonia, Người Montenegro, Người Serb và Người Slovenia).
Mặc dù phần lớn người Slav là người Kitô giáo, một số nhóm, chẳng hạn như người Bosniak, chủ yếu tự nhận mình là người Hồi giáo. Các quốc gia và nhóm dân tộc Slav hiện đại rất đa dạng, cả về mặt di truyền và văn hóa, và mối quan hệ giữa họ có thể dao động từ "sự đoàn kết dân tộc đến cảm giác thù địch lẫn nhau" — ngay cả trong các nhóm lẻ.[10]
Từ nguyên
sửaLần đề cập sớm nhất về tộc danh Slav là từ thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên, khi Procopius, viết bằng tiếng Hy Lạp Trung Đại, đã sử dụng nhiều hình thức khác nhau như Sklaboi (Σκλάβοι), Sklabēnoi (Σκλαβηνοί), Sklauenoi (Σκλαυηνοί), Sthlabenoi (Σθλαβηνοί), hoặc Sklabinoi (Σκλαβῖνοι),[11] và người đương thời của ông Jordanes đề cập đến Sclaveni trong tiếng Latin.[12] Các tài liệu lâu đời nhất được viết bằng tiếng Slav Giáo hội Cổ, có niên đại từ thế kỷ thứ 9, chứng thực tên tự đặt là Slověne (Словѣне). Những hình thức đó chỉ trở lại một từ tự chủ Slav, có thể được tái tạo trong tiếng Slav nguyên thủy là *Slověninъ, số nhiều là Slověne.[cần dẫn nguồn]
Từ tự chủ được xây dựng lại *Slověninъ thường được coi là một sự bắt nguồn từ slovo ("từ"), ban đầu có nghĩa là "những người nói (cùng một ngôn ngữ)", nghĩa là "những người hiểu nhau", trái ngược với từ Slav có nghĩa là "người Đức", cụ thể là *němьcь, có nghĩa là "những người im lặng, câm lặng" (từ tiếng Slav *němъ "câm lặng, lẩm bẩm"). Từ slovo ("từ") và từ slava ("vinh quang, danh tiếng") và sluh ("nghe") có liên quan bắt nguồn từ gốc Proto-Indo-European *ḱlew- ("được nói đến, vinh quang"), cùng nguồn gốc với tiếng Hy Lạp cổ κλέος (Bản mẫu:Grc-tr "danh tiếng"), như trong tên Pericles, tiếng Latin là clueō ("được gọi"), và tiếng Anh là loud.[cần dẫn nguồn]
Trong các nguồn thời trung cổ và đầu thời hiện đại được viết bằng tiếng Latin, người Slav thường được gọi là Sclaveni hoặc ngắn gọn hơn là Sclavi.[13]
Lịch sử
sửaNguồn gốc
sửaĐề cập lần đầu
sửaCác nguồn sử liệu La Mã cổ đại gọi người Slav sơ khai là “Veneti”, những sinh sống tại một khu vực ở Trung Âu, nằm về phía đông của bộ tộc người Đức Suebi và phía tây của những người Sarmatia gốc Iran trong các thế kỷ I và II, giữa thượng lưu sông Wisła và sông Dnepr.[14][15] Người Slav, được gọi là Antes và Sclaveni, lần đầu tiên xuất hiện trong các ghi chép của Đế quốc Đông La Mã vào đầu thế kỷ VI. Các sử gia Đông La Mã sống dưới thời hoàng đế Justinianus I (trị vì giai đoạn 527–565), chẳng hạn như Procopius thành Caesarea, Jordanes và Theophylact Simocatta, mô tả các bộ tộc mang những tên gọi này xuất hiện từ khu vực dãy Karpat, hạ lưu sông Danube và vùng Biển Đen, rồi tiến hành các cuộc xâm nhập vào các tỉnh ven sông Danube thuộc Đế quốc Đông La Mã.
Trong tác phẩm Getica (được viết vào năm 551)[16], Jordanes mô tả người Veneti là một “dân tộc đông đúc”, có nơi cư trú bắt đầu từ đầu nguồn sông Vistula và trải rộng trên “một vùng đất rộng lớn”. Ông cũng xem người Veneti là tổ tiên của Antes và Sclaveni, hai bộ tộc Slav thời kỳ đầu xuất hiện tại biên giới Byzantine vào đầu thế kỷ VI.
Năm 545, Procopius viết rằng “Sclaveni và Antae thực ra từng có cùng một tên gọi trong quá khứ xa xưa; bởi vào thời cổ, cả hai đều được gọi là Sporoi”. Tên gọi Sporoi bắt nguồn từ từ σπείρω trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “gieo”. Ông mô tả họ là những người man rợ, sống dưới một hình thức dân chủ và tin vào một vị thần duy nhất, “người tạo ra sấm chớp” (Perun), người mà họ tiến hành các nghi lễ hiến tế. Họ sống trong những khu dân cư phân tán và thường xuyên di chuyển nơi cư trú. Khi chiến đấu, họ chủ yếu là bộ binh, sử dụng khiên, giáo và cung; áo giáp rất ít được sử dụng và chủ yếu dành cho các tù trưởng cùng nhóm chiến binh thân cận của họ.[17] Ngôn ngữ của họ được Procopius mô tả là “man rợ”, tức không phải tiếng Hy Lạp. Hai bộ tộc này có ngoại hình tương tự nhau: cao lớn và khỏe mạnh, “cơ thể và tóc của họ không quá trắng hay vàng, nhưng cũng không hoàn toàn mang kiểu hình sẫm màu; tất cả đều có sắc da hơi đỏ. Họ sống một cuộc sống khắc khổ, không màng đến những tiện nghi của thân thể...”.[18]
Jordanes mô tả người Sclaveni có các vùng đầm lầy và rừng rậm làm nơi cư trú.[19] Một nguồn tư liệu khác có niên đại thế kỷ VI cũng cho biết họ sinh sống giữa những khu rừng, sông ngòi, hồ và đầm lầy gần như không thể xuyên qua.[20]
Menander Protector nhắc đến Daurentius (trị vì khoảng 577–579), người đã giết một sứ giả của Khagan Bayan I của người Avar Pannonia vì người này yêu cầu người Slav chấp nhận quyền bá chủ của người Avar. Daurentius từ chối và được thuật lại là đã nói: “Những kẻ khác không chinh phục đất đai của chúng ta; chính chúng ta chinh phục đất đai của họ – và sẽ luôn như vậy đối với chúng ta, chừng nào còn chiến tranh và vũ khí”.[21]
Di cư
sửaThời Trung Cổ
sửaThời hiện đại
sửaNgôn ngữ
sửaPhân khu dân tộc-văn hóa
sửaDi truyền học
sửaTôn giáo
sửaMối quan hệ với những người không phải người Slav
sửaDân số
sửaSử học
sửaGhi chú
sửaTham khảo
sửaTrích dẫn
sửa- ↑ Kirch, Aksel (tháng 6 năm 1992). "Russians as a Minority in Contemporary Baltic States". Bulletin of Peace Proposals. 23 (2). SAGE Publishing: 205–212. doi:10.1177/096701069202300212. JSTOR 44481642. S2CID 157870839.
- ↑ Ramet, Pedro (1978). "Migration and Nationality Policy in Soviet Central Asia". Humboldt Journal of Social Relations. 6 (1). California State Polytechnic University, Humboldt: 79–101. JSTOR 23261898.
- ↑ "Geography and ethnic geography of the Balkans to 1500". ngày 25 tháng 2 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 1999.
- ↑ Encyclopædia Britannica (ngày 18 tháng 9 năm 2006). "Slav (people) – Britannica Online Encyclopedia". Britannica.com. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2010.
- ↑ Kamusella, Tomasz; Nomachi, Motoki; Gibson, Catherine (2016). The Palgrave Handbook of Slavic Languages, Identities and Borders. London: Palgrave Macmillan. ISBN 978-1-137-34839-5.
- ↑ Serafin, Mikołaj (tháng 1 năm 2015). "Cultural Proximity of the Slavic Nations". Academia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2017.
- ↑ Živković, Tibor; Crnčević, Dejan; Bulić, Dejan; Petrović, Vladeta; Cvijanović, Irena; Radovanović, Bojana (2013). The World of the Slavs: Studies of the East, West and South Slavs: Civitas, Oppidas, Villas and Archeological Evidence (7th to 11th Centuries AD). Belgrade: Istorijski institut. ISBN 978-86-7743-104-4.
- ↑ Gasparov, Boris; Raevsky-Hughes, Olga (2018). Christianity and the Eastern Slavs, Volume I: Slavic Cultures in the Middle Ages (bằng tiếng Anh). Univ of California Press. tr. 120 & 124. ISBN 978-0-520-30247-1.
- ↑ Stephen Barbour, Cathie Carmichael, Language and Nationalism in Europe, Oxford University Press, 2000, p. 199, ISBN 0-19-823671-9
- ↑ Robert Bideleux; Ian Jeffries (tháng 1 năm 1998). A History of Eastern Europe: Crisis and Change. Psychology Press. tr. 325. ISBN 978-0-415-16112-1.
- ↑ Procopius, History of the Wars,\, VII. 14. 22–30, VIII.40.5
- ↑ Jordanes, The Origin and Deeds of the Goths, V.33.
- ↑ Curta 2001, tr. 41–42, 50, 55, 60, 69, 75, 88.
- ↑ Coon, Carleton S. (1939) The Peoples of Europe. Chương VI, Mục 7 New York: Macmillan Publishers.
- ↑ Tacitus. Germania, page 46.
- ↑ Curta 2001: 38. Dzino 2010: 95.
- ↑ Barford, Paul M (2001). The Early Slavs: Culture and Society in Early Medieval Eastern Europe. Cornell University Press. ISBN 978-0-8014-3977-3.
- ↑ "Procopius, History of the Wars, VII. 14. 22–30"
- ↑ Jordanes, The Origin and Deeds of the Goths, V. 35.
- ↑ Maurice's Strategikon: handbook of Byzantine military strategy, trans. G.T. Dennis (1984), p. 120.
- ↑ Curta 2001, pp. 91–92, 315.
- Mallory & Adams "Encyclopedia of Indo-European Culture
- Nystazopoulou-Pelekidou 1992: Middle Ages Lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine
- Jordanes, The Origin and Deeds of the Goths, V. 35.
- F. Kortlandt, The spread of the Indo-Europeans, Journal of Indo-European Studies, vol. 18 (1990), pp. 131–140. Online version, p. 4.
- F. Kortlandt, The spread of the Indo-Europeans, Journal of Indo-European Studies, vol. 18 (1990), pp. 131–140. Online version, p. 3.
- Maurice's Strategikon: handbook of Byzantine military strategy, trans. G.T. Dennis (1984), p. 120.
- "Procopius, History of the Wars, VII. 14. 22–30". Clas.ufl.edu. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014.
có tên "encyclopedia" được định nghĩa trong không được đoạn văn trên sử dụng.Lỗi chú thích: Thẻ có tên "hri" được định nghĩa trong không được đoạn văn trên sử dụng.Lỗi chú thích: Thẻ có tên "jordanes1" được định nghĩa trong không được đoạn văn trên sử dụng.Lỗi chú thích: Thẻ có tên "kortlandt" được định nghĩa trong không được đoạn văn trên sử dụng.Lỗi chú thích: Thẻ có tên "kortlandt5" được định nghĩa trong không được đoạn văn trên sử dụng.Lỗi chú thích: Thẻ có tên "strategikon" được định nghĩa trong không được đoạn văn trên sử dụng.Lỗi chú thích: Thẻ có tên "ufl" được định nghĩa trong không được đoạn văn trên sử dụng.Nguồn
sửa- Nguồn chính
- Moravcsik, Gyula, biên tập (1967) [1949]. Constantine Porphyrogenitus: De Administrando Imperio (ấn bản thứ 2). Washington D.C.: Dumbarton Oaks Center for Byzantine Studies. ISBN 978-0-88402-021-9.
- Scholz, Bernhard Walter, biên tập (1970). Carolingian Chronicles: Royal Frankish Annals and Nithard's Histories. University of Michigan Press. ISBN 978-0-472-06186-0.
- Nguồn thứ cấp
- Allentoft, ME (ngày 11 tháng 6 năm 2015). "Population genomics of Bronze Age Eurasia". Nature. 522 (7555). Nature Research: 167–172. Bibcode:2015Natur.522..167A. doi:10.1038/nature14507. PMID 26062507. S2CID 4399103.
- Balanovsky, Oleg; Rootsi, Siiri; và đồng nghiệp (tháng 1 năm 2008). "Two sources of the Russian patrilineal heritage in their Eurasian context". American Journal of Human Genetics. 82 (1): 236–250. doi:10.1016/j.ajhg.2007.09.019. PMC 2253976. PMID 18179905.
- Balanovsky, Oleg P. (2012). Изменчивость генофонда в пространстве и времени: синтез данных о геногеографии митохондриальной ДНК и Y-хромосомы [Variability of the gene pool in space and time: synthesis of data on the genogeography of mitochondrial DNA and Y-chromosome] (PDF) (Dr. habil. in Biology thesis) (bằng tiếng Nga). Moscow: Russian Academy of Medical Sciences.
- Barford, Paul M. (2001). The Early Slavs: Culture and Society in Early Medieval Eastern Europe. Ithaca, NY: Cornell University Press. ISBN 978-0-8014-3977-3.
- Brather, Sebastian (2008). Archäologie der westlichen Slawen. Siedlung, Wirtschaft und Gesellschaft im früh- und hochmittelalterlichen Ostmitteleuropa [Archaeology of the Western Slavs. Settlement, economy and society in early and high medieval East-Central Europe] (bằng tiếng Đức) (ấn bản thứ 2). Berlin, New York: de Gruyter. ISBN 978-3-11-020609-8.
- Curta, Florin (2001). The Making of the Slavs: History and Archaeology of the Lower Danube Region, c. 500–700. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-1-139-42888-0.
- Curta, Florin (2006). Southeastern Europe in the Middle Ages, 500–1250. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-81539-0.
- Curta Florin, The early Slavs in Bohemia and Moravia: a response to my critics
- Đečević, Mehmed; Vuković-Ćalasan, Danijela; Knežević, Saša (2017). "Re-designation of Ethnic Muslims as Bosniaks in Montenegro". East European Politics and Societies. 31 (1): 137–157. doi:10.1177/0888325416678042. S2CID 152238874. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2022.
- Dvornik, Francis (1962). The Slavs in European History and Civilization. New Brunswick: Rutgers University Press.
- Fine, John Van Antwerp Jr. (1991) [1983]. The Early Medieval Balkans: A Critical Survey from the Sixth to the Late Twelfth Century. Ann Arbor, Michigan: University of Michigan Press. ISBN 978-0-472-08149-3.
- Fine, John Van Antwerp Jr. (1994) [1987]. The Late Medieval Balkans: A Critical Survey from the Late Twelfth Century to the Ottoman Conquest. Ann Arbor, Michigan: University of Michigan Press. ISBN 978-0-472-08260-5.
- Lacey, Robert. 2003. Great Tales from English History. Little, Brown and Company. New York. ISBN 0-316-10910-X.
- Lewis, Bernard. Race and Slavery in the Middle East. Oxford Univ. Press.
- Mathieson, Iain (ngày 21 tháng 2 năm 2018). "The Genomic History of Southeastern Europe". Nature. 555 (7695). Nature Research: 197–203. Bibcode:2018Natur.555..197M. doi:10.1038/nature25778. PMC 6091220. PMID 29466330.
- Nystazopoulou-Pelekidou, Maria. 1992. The "Macedonian Question": A Historical Review Lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2023 tại Wayback Machine. © Association Internationale d'Etudes du Sud-Est Europeen (AIESEE, International Association of Southeast European Studies), Comité Grec. Corfu: Ionian University. (English translation of a 1988 work written in Greek.)
- Obolensky, Dimitri (1974) [1971]. The Byzantine Commonwealth: Eastern Europe, 500–1453. London: Cardinal. ISBN 978-0-351-17644-9.
- Ostrogorsky, George (1956). History of the Byzantine State. Oxford: Basil Blackwell.
- Rębała, Krzysztof, et al.. 2007. Y-STR variation among Slavs: evidence for the Slavic homeland in the middle Dnieper basin. Journal of Human Genetics, May 2007, 52(5): 408–414.
- Verbenko, Dmitry A.; và đồng nghiệp (2005). "Variability of the 3'ApoB Minisatellite Locus in Eastern Slavonic Populations". Human Heredity. 60 (1): 10–18. doi:10.1159/000087338. PMID 16103681. S2CID 8926871.
- Vlasto, Alexis P. (1970). The Entry of the Slavs into Christendom: An Introduction to the Medieval History of the Slavs. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-07459-9.