Bước tới nội dung

Lý Bạch

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lý Bạch
李白
Lý Bạch ngâm hành, của Lương Giai (1140–1210)
Sinh701
Toại Diệp, Trung Quốc[a]
Mất762 (60–61 tuổi)
Đang Đồ, Trung Quốc[b]
Quốc tịchTrung Quốc
Nghề nghiệpNhà thờ
Sự nghiệp văn học
Tác phẩm nổi bậtTĩnh dạ tứ
Phong trào
Thơ Đường
Tên tiếng Trung
Tiếng Trung李白
Biểu tự
Tiếng Trung太白
Hiệu
Phồn thể青蓮居士
Giản thể青莲居士
Nghĩa đenThanh Liên cư sĩ

Lý Bạch (k. 701 – 762), biểu tự Thái Bạch (太白), là một nhà thơ người Trung Quốc, được đánh giá là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất và quan trọng nhất của thời nhà Đường, thậm chí là của cả nền thơ Trung Quốc. Đường Văn Tông ngự phong tán dương thơ Lý Bạch, kiếm vũ Bùi Mân và thảo thư Trương Húc là "Tam Tuyệt".[1][2]

Suốt cuộc đời của mình, ông được tán dương là một thiên tài về thơ ca, người đã mở ra một giai đoạn hưng thịnh của thơ Đường. Từ trẻ, ông đã xa gia đình để đi du lịch, tìm đường lập công danh sự nghiệp. Dẫu muốn góp phần cứu đời giúp dân song chưa bao giờ ông được toại nguyện. Ông cùng người bạn Đỗ Phủ trở thành hai biểu tượng thi văn lỗi lạc không chỉ trong phạm vi nhà Đường mà còn trong toàn bộ lịch sử Trung Hoa, thậm chí toàn bộ khu vực Đông Á đồng văn.

Ông đã viết cả ngàn bài thơ bất hủ.[3] Hơn ngàn bài thơ của ông được tổng hợp lại trong tập Hà Nhạc Anh Linh tập (河岳英靈集), một tuyển tập thơ rất đồ sộ thời Vãn Đường do Ân Phan (殷璠) chủ biên vào năm 753, và hơn 43 bài của ông được ghi trong Đường Thi Tam Bách Thủ (唐詩三百首) được biên bởi Tôn Thù (孫洙), một học giả thời nhà Thanh. Vào thời đại của ông, thơ của ông đã xuất hiện các bản dịch tại phương Tây, chủ đề của ông nhấn mạnh tán dương mối quan hệ bạn bè, sự thần bí của thiên nhiên, tâm trạng tĩnh mịch và thú vui uống rượu rất đặc trưng của ông.

Cuộc đời của ông đi vào truyền thuyết, với phong cách yêu rượu hiếm có, những truyện ngụ ngôn và truyền thuyết về tinh thần trượng nghĩa, cũng như điển tích nổi tiếng về việc ông đã chết đuối khi nhảy khỏi thuyền để bắt cái bóng phản chiếu của mặt trăng.

Tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi của Lý Bạch đã được Latinh hóa là Li Bai, Li Po, Li Bo (Latinh hóa cách phát âm Hán ngữ tiêu chuẩn), và Ri Haku (Latinh hóa cách phát âm tiếng Nhật).[4] Sở dĩ có những cách Latinh hóa khác nhau là vì tên của Lý Bạch (白) có hai cách phát âm trong Hán ngữ tiêu chuẩn, theo văn độc là bó (Wade–Giles: po2) và theo bạch độc là bái, đồng thời những học giả thời kỳ đầu dùng phương pháp phiên âm Wade–Giles trong khi những học giả hiện tại dùng bính âm Hán ngữ. Cách phát âm tên của Lý Bạch vào thời nhà Đường được phục dựng là Bhæk. Biểu tự của Lý Bạch là Thái Bạch (太白), nghĩa đen là "Sao Trắng vĩ đại", tên gọi của Sao Kim vào thời điểm đó; theo tiểu sử Lý Bạch trong Tân Đường thư, mẹ của Lý Bạch mơ thấy Sao Kim trong khi sinh con nên đặt tên là Bạch.[5] Biểu tự của Lý Bạch cũng được Latinh hóa là Li Taibo, Li Taibai và Li Tai-po. Cách phát âm tên và biểu tự của Lý Bạch trong tiếng Nhật có thể được Latinh hóa lần lượt là "Ri Haku" và "Ri Taihaku".

Do sự lỗi lạc của mình, ông được hậu bối tôn làm Thi Tiên (詩仙) hay Thi Hiệp (詩俠). Giới thi nhân bấy giờ thì rất kính nể tài uống rượu làm thơ bẩm sinh, nên gọi Lý Bạch là Tửu Tiên (酒仙) hay Trích Tiên Nhân (謫仙人). Hạ Tri Chương gọi Lý Bạch là Thiên Thượng Trích Tiên (天上謫仙).

Cuộc đời

[sửa | sửa mã nguồn]

Cựu Đường thư và Tân Đường thư là hai nguồn sơ cấp chính về tiểu sử của Lý Bạch.[6]

Thân thế

[sửa | sửa mã nguồn]
Chân dung Lý Bạch

Lý Bạch sinh năm 701, nhưng vấn đề nơi sinh của Lý Bạch chưa có lời giải. Một số học giả cho rằng ông sinh ra ở Miên Dương, Tứ Xuyên,[7] trong khi những học giả khác cho rằng ông sinh ra ở Toại Diệp tại Trung Á (nay là Kyrgyzstan),[8] nơi gia đình ông buôn bán phát đại tại vùng biên cương.[9] Sau đó, bố ông là Lý Khách (李客) chuyển gia đình đến Giang Du, gần khu vực nay là Thành Đô, ở Tứ Xuyên, khi Lý Bạch mới năm tuổi. Gia đình Lý Bạch chuyển xuống Giang Du như thế nào là một ẩn số vì thông thường một gia đình ở vùng biên cương phải được cho phép thì mới được di cư, đặc biệt là nếu gia đình đó bị đày ra vùng biên cương.

Theo lời Lý Bạch kể lại, ông là hậu duệ của tướng quân Lý Quảng nhà Hán, là cháu chín đời của Tây Lương Vũ Chiêu vương Lý Cảo nước Tây Lương thời Ngũ Hồ thập lục quốc. Có sách ghi ông là con cháu đời sau tông thất nhà Đường, cụ thể là hậu duệ của Ẩn Thái tử Lý Kiến Thành. Vào cuối đời nhà Tùy, một người họ Lý trốn ra Tây Vực, kết duyên cùng một Man bà (phụ nữ Tây Vực), đến năm Trường An nguyên niên sinh ra Lý Bạch (lúc này nhà Đường đang có sự biến do Võ Tắc Thiên gây ra).

Lý Bạch suốt thời thơ ấu được mẹ dạy cho chữ Tây Vực, cha dạy cho Kinh Thi, Kinh Thư, đến 10 tuổi đã thông thạo và thích làm thơ. Gia đình giàu có, nên từ nhỏ Lý Bạch đã tha hồ đi đây đi đó cùng cha. Ông tỏ ra rất thích, chí hướng của ông sau này không phải quan trường, mà là thơ túi rượu bầu, thong dong tiêu sái. Đến năm 10 tuổi gia đình chuyển về huyện Chương Minh, Tứ Xuyên. Tại đây Lý Bạch say mê học kiếm thuật, trong một thời gian ngắn, tài múa kiếm và tài thơ của ông được bộc lộ rõ rệt.

Năm 15 tuổi, ông đã có bài phú ngạo Tư Mã Tương Như, bài thơ gửi Hàn Kinh Châu, khá nổi tiếng. Lúc 16 tuổi danh tiếng đã nổi khắp Tứ Xuyên, thì ông lại phát chán, bèn lên núi Đái Thiên Sơn học đạo, bắt đầu cuộc đời ẩn sĩ. Làm ẩn sĩ trên núi được 2 năm, ông lại hạ sơn, bắt đầu làm hiệp sĩ, đi lùng hết các thắng cảnh ở Hà Bắc, Giang Tây, Trường An... Bạn đồng hành với ông lúc này là Đông Nham Tử, nhưng chỉ đi chung được 1 năm. Đến năm 20 tuổi Lý Bạch đã đi khắp nước Thục, ông lại về Tứ Xuyên với gia đình, chuẩn bị tiền đi đường và tiền mua rượu cho cuộc hành trình sắp tới. Ông đến làm dưới trướng của thứ sử Ích Châu Tô Dĩnh, được ông này khen là thiên tài, "có thể sánh với Tư Mã Tương Như".

Năm 723, Lý Bạch mặc áo trắng, đeo một bầu rượu lớn, chống kiếm lên đường viễn du. Trong khoảng ba năm, ông đã tham quan hầu hết cảnh đẹp Trung Hoa, như là hồ Động Đình, sông Tương, Kim Lăng, Dương Châu, Ngô Việt, Giang Hạ...Đến năm 726, ông đến Vân Mộng kết duyên cùng cháu gái của Hứa tướng công. Thời gian này tài năng thơ bắt đầu nở rộ. Đến 30 tuổi thì tiếng tăm đã vang đến triều đình. Được mời đi làm quan, nhưng ông không nhận.

Năm 735, ông đi chơi ở Thái Nguyên, gặp Quách Tử Nghi đang ở tù, ông xin giúp, Quách liền được thả. Ông lại dẫn vợ rong chơi qua nước Tề, Lỗ, rồi định cư ở Nhiệm Thành. Đến đây Lý Bạch lại được Khổng Sào Phủ, Hàn Chuẩn, Bùi Chính, Đào Cái, Trương Thúc Minh - những ẩn sĩ đương thời - rủ lên núi Tồ Lai thưởng ngoạn, rồi say sưa ở Trúc Khê. Nhóm này được người ta gọi là "Trúc Khê lục dật".

Vào cung và bị gièm pha

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 741, Lý Bạch lại một phen từ bỏ gia đình, vợ con, ông đến Hồ Nam rồi Giang Tô, Sơn Đông... đi đến đâu danh tiếng lan ra đến đó. Năm 742, ông đến Cối Kê, cùng đạo sĩ Ngô Quân ở ẩn tại Thiểm Trung. Sau đó cùng bạn về Trường An, ở đây ông gặp thái tử tân khách Hạ Tri Chương, trở nên đôi bạn rượu-thơ thân thiết. Ông được Hạ Tri Chương tiến cử lên vua Đường Minh Hoàng, vua Đường nghe danh đã lâu nên rất thích, mời vào điện Kim Loan giao việc thảo thư từ, sau được phong làm Hàn Lâm, chuyên giữ việc mật. Được vua Đường và Dương Quý Phi yêu thích. Tại đây, cùng với Hạ Tri Chương, Thôi Tông Chi, Vương Tiến, Tô Tần, Trương Húc, Tiêu Toại, Lý Thích Chi hợp thành nhóm "Tửu trung bát tiên". Năm 745, Dương Quốc Trung gièm pha nên Dương Quý Phi cũng phát ghét, chỉ trích luôn luôn làm Đường Minh Hoàng khó xử.

Lý Bạch nhận thấy sự đó, cộng với lòng đam mê du lãm đang trỗi dậy, ông liền từ biệt vua Đường. Vua rất buồn, nhưng cũng nghe theo, lại tặng thêm rất nhiều vàng nhưng thi nhân không nhận, cuối cùng trao cho ông quyền uống rượu miễn phí tại bất cứ quán rượu nào mà ông đi qua, tiền rượu sẽ do ngân khố thanh toán.

Cuối đời

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong 10 năm kể từ lúc rời cung, Lý Bạch tha hồ uống rượu và đi chơi, ông từng qua các nước Triệu, Nguỵ, Tề, Tần, Lương, Tống, các vùng Bân, Kỳ, Thương, Lạc Dương, các sông Hoài, sông Tứ... Do đi quá nhiều nên ông cũng quen biết và thân thiết với rất nhiều, trong đó có Đỗ Phủ, Sầm Tham, Mạnh Hạo Nhiên, Cao Thích...

Năm 755, ông quen với Nguỵ Hạo ở Quảng Lăng, hai người cùng xoã tóc đi thuyền vào sông Tần Hoài. Sau đó đến Tuyên Thành. Tháng 11 năm 755 xảy ra loạn An Sử, Lý Bạch liền về Lư Sơn, ở ẩn tại Bình phong điệp. Năm ông 56 tuổi, Tiết độ sứ Vĩnh Vương Lân đến tận núi mời ông về phủ. Lý Bạch đành phải đi theo. Đến khi Lân làm phản bị bắt, Lý Bạch chạy trốn nhưng không thoát, lúc sắp bị tử hình có Tuyên Uý đại sứ Thôi Chi Hoán với ngự sử trung thừa Tống Nhược Tư đem giấu đi. Sang năm 757, ông bị triều đình bắt lại, lúc này người từng được Lý Bạch cứu khi xưa là Vương Chi Hoán ra sức giải oan, ông được giảm xuống tội đi đày.

Năm 758, trên đường đi đày ba vùng Dạ Lang, Động Đình, Tam Giáp, Lý Bạch được tha, liền đi xuống phía đông đến Hán Dương, tiếp tục cuộc ngao du đây đó, tuy nhiên tuổi già, sức yếu, ông đành đến Đang Đồ, ở nhờ anh họ là Lý Dương Băng.

Qua đời

[sửa | sửa mã nguồn]
Nhà tưởng niệm Lý Bạch tại Giang Du, Tứ Xuyên

Tháng 1 năm 764, Đường Đại Tông bổ dụng Lý Bạch làm quan, gửi chiếu chỉ mời Lý Bạch vào cung nhưng khi chiếu chỉ đến Đang Đồ thì mới phát hiện Lý Bạch đã qua đời hơn một năm. Chính quyền địa phương chỉ có thể xác định Lý Bạch qua đời vào năm 762, còn nguyên nhân mất thì không ghi chép lại.[10]

Tác phẩm

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thơ Bì Nhật Hưu thời vãn Đường nói rằng: "Từ khi nhà Đường dựng nghiệp đến giờ, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỷ thần, đọc xong thì thần ruổi tám cực, lường rồi thì lòng ôm bốn bể, lỗi lạc dị thường, không phải lời của thế gian, thì có thơ Lý Bạch".

Lý Bạch làm hơn 20.000 bài thơ cả thảy, nhưng làm bài nào vứt bài đó, nên được biết tới là nhờ dân gian ghi chép lại. Sau loạn An Sử thì mất rất nhiều. Đến khi ông mất năm 762 thì người anh họ Lý Dương Lân thu thập lại, thấy chỉ còn không tới 1/10 so với người ta truyền tụng. Sang năm 1080, Sung Minh Chiu người Cao Ly mới gom góp lại các tập thơ của Lý Bạch, gồm 1800 bài. Đến nay thì thơ Lý Bạch còn trên dưới 1000 bài, bài nào cũng được đánh giá rất cao, nhưng nổi tiếng trong dân gian thì có: Tương Tiến Tửu, Hiệp khách hành, Thanh Bình Điệu, Hành lộ nan...

Khác với Đỗ Phủ, Lý Bạch thích viển vông, phóng túng, ít đụng chạm đến thế sự mà thường vấn vương hoài cổ (Phù phong hào sĩ ca, Hiệp khách hành, Việt trung lãm cổ...), tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp (Cổ phong, Quan san nguyệt...), cảm thông cho người chinh phụ (Trường can hành, Khuê tình, Tử dạ thu ca...), về tình bạn hữu (Tống hữu nhân, Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Văn Vương Xương Linh thiên Long Tiêu...), tình trai gái (Oán tình, Xuân tứ...), nhớ quê hương (Tĩnh dạ tứ, Ức Đông Sơn...). Nhưng nhiều nhất vẫn là về rượu (Tương Tiến tửu, Bả tửu vấn nguyệt, 4 bài nguyệt hạ độc chước, Xuân nhật độc chước, Đối tửu...).

Lý Bạch làm thơ lối Cổ Phong rất được yêu thích, ngoài ra còn có thơ tứ cú, bát cú.

Rượu và trăng

[sửa | sửa mã nguồn]

Ở đời như giấc chiêm bao
Cái thân còn đó, lao đao làm gì?
Cho nên suốt buổi say lì,
Nằm lăn trước cột, biết gì có ta.

Tỉnh thôi đưa mắt sân nhà.
Một con chim hót bên hoa ngọt ngào.
Hỏi xem: nay đó ngày nào?
Ngày xuân gió mát, vui chào tiếng oanh.

Ngậm ngùi cám cảnh sinh tình,
Nghiêng bầu, mình lại với mình làm vui.
Hát ran, chờ tấm trăng soi,
Thoạt xong câu hát thời rồi đã quên.

處世若大夢,
胡爲勞其生.
所以終日醉,
頹然臥前楹.


覺來盼庭前,
一鳥花間鳴.
借問此何時,
春風語流鶯.


感之欲嘆息,
對酒還自傾.
浩歌待明月,
曲盡已忘情.

— "Xuân nhật tuý khởi ngôn chí" (春日醉起言志; Chūnrì Zuìqǐ Yánzhì), bản dịch của Tản Đà

Có rượu không có bạn,
Một mình chuốc dưới hoa.
Cất chén mời trăng sáng,
Mình với bóng là ba.

Trăng đã không biết uống,
Bóng chỉ quấn theo ta.
Tạm cùng trăng với bóng,
Chơi xuân cho kịp mà!

Ta hát, trăng bồi hồi,
Ta múa, bóng rối loạn.
Lúc tỉnh cùng nhau vui,
Say rồi đều phân tán.
Gắn bó cuộc vong tình,
Hẹn nhau tít Vân Hán.

花間一壺酒。
獨酌無相親。

舉杯邀明月。
對影成三人。


月既不解飲。
影徒隨我身。

暫伴月將影。
行樂須及春。


我歌月徘徊。
我舞影零亂。

醒時同交歡。
醉後各分散。

永結無情遊。
相期邈雲漢。

— "Nguyệt hạ độc chước kỳ 1" (月下獨酌; Yuèxià Dúzhuó), bản dịch của Nam Trân

Nhớ quê hương

[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu giường ánh trăng rọi,
Mặt đất như phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.

床前明月光,
疑是地上霜。
舉頭望明月,
低頭思故鄉。

— "Tĩnh dạ tứ" (靜夜思; Jìngyè Sī), bản dịch của Nam Trân

Ảnh hưởng

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ↑ nay là Vùng Chüy, Kyrgyzstan
  2. ↑ nay ở An Huy, Trung Quốc

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ↑ The New Book of Tang 文宗時,詔以白歌詩、裴旻劍舞、張旭草書為「三絕」
  2. ↑ Tân Đường thư - Lý Bạch truyện: 文宗時,詔以白歌詩、裴旻劍舞、張旭草書為「三絕」。
  3. ↑ Watson 1971, tr. 141.
  4. ↑ Barnstone, Tony and Chou Ping (2010). The Anchor Book of Chinese Poetry: From Ancient to Contemporary, The Full 3000-Year Tradition. Random House. tr. 116. ISBN 978-0-307-48147-4.
  5. ↑ Lỗi chú thích: Thẻ không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "Paris Review"
  6. ↑ Obata, Part III
  7. ↑ Clive Barstow (2025). Connecting Ideas, Cultures, and Communities. CRC Press. tr. 162. ISBN 9781040332795.
  8. ↑ Beckwith, 127
  9. ↑ Sun, 20
  10. ↑ Ha, Jin (ngày 23 tháng 1 năm 2019). "The Poet with Many Names—and Many Deaths". The Paris Review. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2024.

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]